PCI và
BPI năm 2025 tỉnh Sơn La trong mặt bằng cả nước và vùng
Sáng 15/5/2026, Liên đoàn
Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã tổ chức công bố chỉ số năng lực cạnh
tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2025 sau khi sát nhập còn 34 tỉnh thành, đồng thời lần
đầu công bố Chỉ số hiệu quả khu vực kinh tế tư nhân (BPI). Hai chỉ số không xếp
hạng hạng các tỉnh từ cao xuống
thấp, mà xếp hạng theo thứ tự ABC. Các tỉnh tốp đầu được vinh dự trao biểu
trưng.
Ảnh: Nguồn in ternet.
1. Khái quát.
1.1. Cả nước
Chỉ số PCI năm 2025 không công bố điểm tổng
số và xếp hạng các tỉnh từ cao xuống thấp, mà công bố danh sách theo thứ tự ABC
của hai nhóm Tốt, Khá, các tỉnh không đưa vào danh sách thuộc nhóm khác (trung
bình, tương đối thấp và thấp). Không có tỉnh nào thuộc nhóm rất tốt.
Điểm trung vị PCI của các tỉnh
là 63,90 (tối đa là 100 điểm). Mức thấp nhất
là 55,63 điểm và cao nhất là 69,72 điểm. Biên độ hơn 14 điểm cho thấy chênh lệch
về chất lượng điều hành là khá rõ, song phần lớn địa phương vẫn tập trung quanh
dải điểm trung bình - khá thay vì tách thành các cực quá xa nhau.
Nhóm Tốt dẫn đầu gồm 5 tỉnh là
Bắc Ninh, Hải Phòng, Phú Thọ, Quảng Ninh.
Nhóm Khá gồm 13 tỉnh: An Giang, Đồng Nai, Gia Lai, Huế, Hưng Yên, Khánh
Hòa, Lạng Sơn, Lào Cai, Lâm Đồng, Ninh Bình, Thái Nguyên, TP Hồ Chí Minh, Tuyên
Quang.
Nhóm khác gồm 16 tỉnh (10 Trung
bình, 6 Tương đối thấp, 1 Thấp).
Chỉ số BPI lần đầu tiên VCCI thí điểm và
công bố Chỉ số hiệu quả khu vực kinh tế tư nhân (BPI). BPI gồm 23 chỉ số thành
phần đo lường về sự phát triển và năng lực đổi mới
sáng tạo của khu vực tư nhân.
Điểm trung vị
BPI năm 2025 là 4,2 (điểm tối đa là 10) với điểm phát triển 4,46 và điểm đổi mới
sáng tạo 4,17. BPI cao nhất là 5,67 và thấp nhất là 3,26. Có 9 tỉnh BPI dưới 4
điểm; 18 tỉnh 4-5 điểm, 7 tỉnh 5 điểm trở lên.
Chỉ số BPI
không xếp hạng cụ thể các tỉnh theo nhóm và thứ tự từ cao xuống thấp, nhưng
công bố 3 địa phương dẫn đầu. Thành phố Hồ chí Minh: BPI 5,67/điểm tối đa 10;
điểm phát triển 5,19; điểm đổi mới sáng tạo 6,15. Hà Nội: BPI 5,41,
điểm phát triển 4,84; điểm đổi mới sáng tạo 5,98. Quảng Ninh: BPI 5,33, điểm phát triển 5,22; điểm đổi mới sáng tạo 5,45.
1.2. Vùng TD&MNPB.
PCI vùng TD&MNPB có 1 tỉnh
nhóm Tốt (Phú Thọ), 4 tỉnh thuộc nhóm Khá (Lạng Sơn, Lào Cai, Thái Nguyên,
Tuyên Quang); 4 tỉnh thuộc nhóm Khác (3 tỉnh Trung bình, 1 tỉnh Tương đối thấp,
không có tỉnh nào Thấp). BPI của vùng, có 2 tỉnh dưới 4 điểm BPI, còn lại đều
trên 4 điểm, không có tỉnh nào từ 5 điểm trở lên.
2. PCI và BPI của Sơn La trong mặt bằng chung của Vùng và cả nước.
2.1.Chỉ số kinh tế, doanh nghiệp và PCI của Sơn La
Các thông số chính năm 2025 của
Sơn La: Tăng trưởng kinh tế 8.03%. Số
DNTN thành lập mới/1000 dân đạt 0,65 DN. Tỷ lệ DN có kế hoạch mở rộng SXKD 2
năm tới ở mức 27,12%. Tỷ lệ DN kinh doanh có lãi 53,33%. Chất lượng điều hành
thuộc nhóm dưới Khá, chính xác là Trung bình. Điểm PCI thấp hơn trung vị cả nước
2,39 điểm, thấp hơn trung vị vùng TD&MNPB 2,34 điểm.
2.2. Các chỉ số thành phần PCI
|
Chỉ số thành phần
|
Điểm số
Sơn La
|
Trung vị Vùng
|
Trung vị
cả nước
|
Thấp nhất cả nước
|
Cao nhất cả nước
|
|
1- Gia nhập thị trường
|
7,37
|
6,99
|
7,07
|
5,28
|
8,70
|
|
2-Tiếp cận nguồn lực
|
6,40
|
6,12
|
6,05
|
4,07
|
6,69
|
|
3- Tính minh bạch
|
5,83
|
6,91
|
6,93
|
5,33
|
7,78
|
|
4- Chi phí tuân thủ TTHC
|
6,81
|
6,91
|
7,31
|
5,93
|
8,93
|
|
5- Chi phí không chính thức
|
7,80
|
7,67
|
7,60
|
6,01
|
8,32
|
|
6- Cạnh tranh bình đẳng
|
4,91
|
5,56
|
5,51
|
4,90
|
7,75
|
|
7- Chính sách hỗ trợ DN
|
5,72
|
5,40
|
5,43
|
4,37
|
6,87
|
|
8- Thiết chế pháp lý
|
6,91
|
7,27
|
7,29
|
6,01
|
7,94
|
|
9- Chính quyền kiến tạo
|
5,24
|
5,50
|
5,46
|
2,78
|
6,67
|
Tỉnh Sơn La có 4 chỉ số thành
phần (Gia nhập thị trường, Tiếp cận nguồn
lực, Chi phí không chính thức, Chính sách hỗ trợ doanh nghiêp) cao hơn
trung vị vùng TDMNPB và trung vị cả nước, còn 5 chỉ số thấp hơn (Tính minh bạch, Chi phí tuân thủ TTHC, Cạnh
tranh bình đẳng, Thiết chế pháp lý, Chính quyền kiến tạo).
3.3. Chỉ số hiệu quả kinh tế
tư nhân (BPI)
|
Chỉ số và Chỉ số thành phần
|
Tỉnh Sơn La
|
Trung vị vùng
|
Trung vị cả nước
|
Thấp nhất cả nước
|
Cao nhất cả nước
|
|
Chỉ số BPI
|
3,49
|
4,02
|
4,20
|
3,26
|
5,67
|
|
Phát triển khu vực tư nhân
|
3,49
|
3,94
|
4,46
|
3,31
|
5,48
|
|
Đổi mới sáng tạo
|
3,48
|
4,44
|
4,17
|
2,81
|
6,15
|
Nguồn số liệu các bảng số là theo PCI và BPI năm 2025,
vcivietnam.vn
Chỉ số BPI và hai chỉ số thành
phần (phát triển khu vực tư nhân và đổi mới sáng tạo) của Tỉnh Sơn La đều thấp
hơn so với trung vị vùng TD&MNPB và trung vị cả nước, cao hơn mức thấp nhất
cả nước 0,2-0,7 điểm, thấp hơn mức cao nhất cả nước 2,0-2,6 điểm.
4. Một số vấn đề đặt ra
Sau
một năm thực hiện Nghị quyết 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát
triển kinh tế tư nhân, khu vực tư nhân đang phục hồi mạnh. Đến cuối năm
2025, cả nước có hơn 1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động, tăng 6,6% so với năm
trước. Ngoài ra,
số doanh nghiệp gia nhập thị trường trong năm đạt mức kỷ lục 297.500 doanh
nghiệp, tăng 27,4% so với năm 2024. Có tới 85,7% doanh nghiệp cho biết đang duy
trì hoặc mở rộng quy mô hoạt động. Có tới 85,7% doanh nghiệp đang duy trì
hoặc mở rộng quy mô hoạt động. Cùng với khoảng 6,1 triệu hộ kinh doanh, khu vực tư nhân
hiện tạo việc làm cho khoảng 26 triệu lao động, tương đương hơn 50% tổng việc
làm của cả nước.
Nhưng khu vực kinh tế tư nhân vẫn đối mặt một số điểm nghẽn về
vốn, thị trường và minh bạch chính sách. Khó khăn lớn nhất hiện nay là thị trường đầu ra khi 60,2%
doanh nghiệp cho biết gặp trở ngại trong tìm kiếm khách hàng. Con số này tăng mạnh
so với mức 45,3% của năm 2024 và 41% của năm 2022. Tiếp cận vốn tiếp tục là bài
toán nan giải. Có tới 75,5% doanh nghiệp cho biết không thể vay vốn nếu thiếu
tài sản bảo đảm. Khả năng dự báo chính sách của doanh nghiệp vẫn còn hạn
chế. Chỉ khoảng 6-8% doanh nghiệp có thể thường xuyên dự đoán thay đổi chính
sách, còn 51,9% phải dựa vào mạng xã hội để tiếp cận thông tin dự thảo văn bản.
Về chi phí không chính thức, khoảng 26% doanh nghiệp phát sinh chi phí ngoài
quy định khi xin giấy phép kinh doanh, cao gần gấp ba mức trung bình của khu vực.
Ngoài ra, khu
vực hộ kinh doanh có vai trò đặc biệt quan trọng với an sinh xã hội và việc
làm. Dù nhiều hộ kinh doanh gặp khó khăn, giảm doanh thu trong giai đoạn vừa
qua, song vẫn có hơn 60% hộ giữ nguyên quy mô hoạt động. Vì vậy, nhà nước cần
có thêm chính sách hỗ trợ khu vực này phát triển song hành với doanh nghiệp lớn
và khu vực FDI.
VCCI khuyến
nghị TW và các địa phương cần quan tâm tháo gỡ các điểm nghẽn về vốn, thị trường và
minh bạch chính sách nối trên, có đề xuất hướng giải quyết cụ thể. Đặc biệt nhấn mạnh, (1) trọng tâm cải
cách cấp tỉnh cần dịch chuyển từ mục tiêu “làm thủ tục nhanh hơn” sang mục tiêu
làm thị trường công bằng hơn, hỗ trợ doanh nghiệp hiệu quả hơn và điều hành chủ
động hơn. (2) cần sử dụng dữ liệu PCI và BPI để xây dựng chiến lược cải cách đặc
thù cho từng địa phương. Các địa phương thuộc nhóm khá và trung bình cần tập
trung giải quyết các điểm nghẽn mang tính hệ thống như tiếp cận nguồn lực và tính
minh bạch, các địa phương nhóm Tốt cần thử nghiệm các không gian chính sách mới
về đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. (3) Cần gắn đo lường năng lực điều hành với
đánh giá thực chất của khu vực kinh tế tư nhân, khuyến khích, thúc đẩy mạnh hơn
để cải thiện mặt bằng đổi mới sáng tạo, đầu tư R&D và khả năng liên kết chuỗi
của doanh nghiệp tư nhân, chuyển hóa một môi trường kinh doanh thuận lợi thành
năng lực cạnh tranh cốt lõi và sức bền thực sự của doanh nghiệp tư nhân./.
Phan Đức
Ngữ